BÌNH NGUYÊN LỘC

BÌNH NGUYÊN LỘC

BÌNH NGUYÊN LỘC

Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn (1914-1987) là nhà văn, nhà văn hoá Nam Bộ giai đoạn 1945-1975. Ngoài bút danh Bình Nguyên Lộc, ông còn có các bút danh khác như: Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn, Tôn Dzật Huân, Phóng Ngang, Phóng Dọc, Diên Quỳnh

Bình Nguyên Lộc sinh ra tại làng Tân Uyên, tổng Chánh Mỹ Trung, tỉnh Biên Hoà (nay thuộc thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Ông xuất thân trong một gia đình trung lưu đã có mười đời sống tại Tân Uyên, cha là ông Tô Phương Sâm làm nghề buôn gỗ, mẹ là bà Dương Thị Mão. 

Từ năm 1919-1920, ông theo học chữ nho với một ông đồ trong làng, sau học ở trường tiểu học ở Tân Uyên từ 1921-1927. Năm 1928, ông ở nhà luyện tiếng Pháp để thi vào trung học Pétrus Ký và học tại đây từ 1929-1933. 

Truyện ngắn đầu tay của ông là có tên Phù sa, đăng trên Tạp chí Thanh niên của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Vào khoảng năm 1943, ông hoàn tất tác phẩm Hương gió Đồng Nai (khởi thảo từ năm 1935), tập truyện ngắn và tùy bút về hương đồng cỏ nội đất Đồng Nai nhưng sau đó đã bị thất lạc trong chiến tranh.

Vào những năm 1944-1947, do bệnh cũ tái phát gây khủng hoảng tinh thần nên Bình Nguyên Lộc không viết tác phẩm nào. Năm 1949, ông xuống ở Sài Gòn và ở hẳn đó cho tới năm 1985. Năm 1950, ông viết cuốn Nhốt gió và xuất bản cùng năm. Từ năm 1952, Bình Nguyên Lộc làm thư ký tòa soạn cho vài tờ báo xuất bản tại Sài Gòn. Năm 1952, ông chủ trương tờ Vui sống, tuần báo văn nghệ có khuynh hướng y học với mong muốn áp dụng kiến thức y học phổ thông vào đời sống thực tế. Năm 1956, ông cùng các văn hữu cho ra đời tờ Bến Nghé, tuần báo có tinh thần văn nghệ lành mạnh mang màu sắc địa phương với mục đích làm sống dậy sinh khí của đất Gia Định xưa. Ngoài ra, ông cùng các đồng nghiệp thành lập Nhà xuất bản Bến Nghé, chuyên xuất bản các tác phẩm văn chương mang hương sắc Đồng Nai, Bến Nghé.

Trong thời gian 1960-1970, ông vẫn làm báo và làm chủ bút nhiều nhật báo tại Sài Gòn. Bình Nguyên Lộc sáng tác rất đều tay trong giai đoạn này. Hàng năm ông đều có đôi ba tác phẩm được ra mắt công chúng. Sau 1975, ông ngưng cầm bút vì bệnh nặng.

Ông từ trần ngày 7/3/1987 vì bệnh cao huyết áp, thọ 74 tuổi.

 

Các tác phẩm: 

  • Thơ: Thơ tay trái, Việt sử trường ca và Thơ ba Mén (tiểu thuyết thơ).
  • Sưu tầm, chú giải: Thổ ngơi Đồng Nai (ca dao miền Nam và chú giải cổ văn, viết chung với Nguyễn Ngu Í), Chiêu hồn và Tiếc thay duyên Tấn phận Tần, Tự tình khúc và Thu dạ lữ hoài ngâm, Tỳ bà hành và Trường hận ca.
  • Dân tộc học và ngôn ngữ học: Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (1971), Lột trần Việt ngữ (1972)...
  • Truyện ngắn: Nhốt gió (Thời thế, 1950), Ký thác (Bến Nghé, 1960), Tân liêu trai (Bến Nghé, 1960), Tâm trạng hồng (Sống Mới, 1963). Mưa thu nhớ tằm (Phù Sa, 1965), Tình đất (Thời Mới, 1966), Cuống rún chưa lìa (Lá Bối,1969), Nụ cười nước mắt học trò (Trương gia, 1967)...
  • Tạp bút: Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc (Thịnh Ký, 1966).
  • Truyện dài: Đò dọc (Bến Nghé, 1959), Gieo gió gặt bão (Bến Nghé, 1960), Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương (Thế Kỷ, 1963), Mối tình cuối cùng (Thế Kỷ, 1963), Bóng ai qua ngoài song cửa (Thế Kỷ, 1963), Bí mật của nàng (Thế Kỷ, 1963),  Hoa hậu Bồ Đào (Sống Mới, 1963), Xô ngã bức tường rêu (Sống Mới, 1963), Nhện chờ mối ai (Nam Cường, 1963), Nửa đêm… Nửa đêm trãng sụp (Nam Cường, 1963), Đừng hỏi tại sao (Tia Sáng, 1965), Quán tai heo (Văn Xương, 1967), Một nàng hai chàng (1967), Thầm lặng (1967), Trăm nhớ ngàn thương (1967), Uống lộn thuốc tiên (67), Đèn Cần Giờ (1968), Diễm Phương (1968), Sau đêm bố ráp (1968), Khi Từ Thức về trần (1969), Nhìn xuân người khác (1969) Tỳ vết tâm linh (?), Lữ đoàn mông đen (Xuân Thu, Hoa Kỳ, 2001).
  • Truyện dài chưa in: Ngụy Khôi, Đôi giày cũ chữ Phạn, Thuyền Trưởng sông Lô, Mà vẫn chưa nguôi hình bóng cũ, Người săn ảo ảnh, Suối đổi lốt, Trử La bến cũ, Bọn xé rào, Cô sáu Nam Vang, Một chuyến ra khơi, Trọng Thủy-Mị Đường, Sở đoản của đàn ông, Luật rừng, Trai cưới gái nào, Cuồng ca thế kỷ, Bóng ma dĩ vãng, Gái mẹ, Món nợ thiêng liêng, Khi chim lìa tổ lạnh, Ngõ 25, Hột cơm Ngô chúa, Lưỡi dao cùn, Con khỉ đột trò xiếc, Con quỷ ban trưa, Quật mồ người đẹp, Người đẹp bến Ninh Kiều, Bưởi Biên Hoà, Giấu tận đáy lòng, Quang Trung du Bắc, Xóm Đề bô, Hai kiếp nhả tơ, Muôn triệu năm xưa, Hổ phách thời gian…
  • Theo Nguyễn Ngu Í, đến ngày 31/5/1966 Bình Nguyên Lộc đã viết: 820 truyện ngắn (in năm tập), 52 tiểu thuyết (in 11 quyển)

MỘT CHÀNG HAI NÀNG

Ấn phẩm "Một nàng hai chàng" của tác giả Bình Nguyên Lộc, do Thụy Hương xuất bản năm 1967. Ấn bản đang được lưu giữ tại Quán Sách Mùa Thu có tình trạng đẹp, tốt, còn bìa gáy, dày 138 trang. “Tiểu thuyết này, thật ra, trước kia là một truyện phim mà hình thức SYNOPSIS đã đăng trên nhật báo Buổi Sáng năm 1958, như là một truyện ngắn thường, lấy tên là TRÊN HANG ỐNG KHÓI. Năm sau đó, hình thức TRAITEMENT DÉTAILLÉ lại đăng trên tạp chí Điện Ảnh. Hình thức chót là hình thức DÉCOUPAGE đăng báo không được vì lý do kỹ thuật riêng...

ĐÒ DỌC

Ấn phẩm "Đò dọc" của tác giả Bình Nguyên Lộc, sách do nhà xuất bản Nắng Mới ấn hành lần thứ nhất hai 1973. Ấn bản đang lưu giữ tại Quán Sách Mùa Thu có tình trạng rất đẹp, sách dày 250 trang, sách đẹp nguyên bìa gáy, ruột đẹp, lõi sách chắc chắn. Chuyện kể, sau chiến tranh với người Pháp, một gia đình có bốn cô con gái chưa chồng lại dắt dìu nhau từ Sài Gòn về Thủ Đức dựng nhà. Khi ấy, nơi này chưa hề có phố xá. Hương vị thành phố thoang thoảng trong thí nhớ các cô gái và ánh đèn từ...

KÝ THÁC

Ấn phẩm "Ký Thác" của tác giả Bình Nguyên Lộc, sách do nhà xuất bản Cửu Long ấn hành năm 1968. Ấn bản đang lưu giữ tại Quán Sách Mùa Thu có tình trạng đẹp nguyên bìa gáy, sách dày 201 trang, lõi sách chắc chắn. Ký Thác là tập truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc, có thể nói Ký thác là một tập sách mà truyện nào cũng ý vị và trao chuốt công phu. Tất cả những truyện trong tác phẩm đều là những chuyện có nghĩa lý cùng cách hành văn vừa kỹ lưỡng, vừa phóng túng. Cách kể tự nhiên như giọng của một người trải đời,...

LỘT TRẦN VIỆT NGỮ

Ấn phẩm "Lột trần Việt ngữ" do tác giả Bình Nguyên Lộc biên soạn, sách được nhà xuất bản Nguồn Xưa ấn hành lần thứ nhất năm 1972. Ấn bản đang lưu giữ tại Quán Sách Mùa Thu có tình trạng đẹp nguyên bìa gáy, sách dày 410 trang, ruột sách đẹp, số trang đầy đủ, lõi sách chắc chắn. Tự vựng riêng của sách nầy Từ vài mươi năm nay, nhiều nhà học giả Pháp và Việt đã nghiên cứu lịch trình tiến hoá của Việt ngữ trong vòng ba trăm năm nay, và đã khám phá ra một số sự kiện mới lạ. Lần này chúng...

NGUỒN GỐC MÃ LAI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Ấn phẩm "Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam" của tác giả Bình Nguyên Lộc do nhà xuất bản Bách Lộc ấn hành năm 1970. Ấn bản đang lưu  giữ tại Quán Sách Mùa Thu là bản in lần thứ nhất, sách có tình trạng đóng bìa xưa còn đầy đủ bìa gốc, dày 896 trang, sách đọc tốt, giấy ngả vang. Với hơn hai trăm biểu đối chiếu sơ về ngôn ngữ Việt-Mã và nhiều khám phá mới lạ về thượng cổ 5000 năm của dân tộc Việt Nam. Không có nền văn hóa nào nên tự thẹn, cũng không có nền văn hóa...
0972 873 962