ERNEST HEMINGWAY

ERNEST HEMINGWAY

ERNEST HEMINGWAY

Ernest Miller Hemingway (21/07/1899 - 02/07/1961) là một tiểu thuyết gia người Mỹ, nhà văn viết truyện ngắn và là một nhà báo. Ông đã nhận được Giải Pulitzer năm 1953 với tiểu thuyết Ông già và biển cả và Giải Nobel Văn học năm 1954.

Ông sinh ra tại Oak Park, Illinois, một vùng ngoại ô của Chicago. Gia đình ông sở hữu một ngôi nhà có tên Windemere trên Walloon Lake, gần Petoskey, Michigan và thường nghỉ hè tại đó. Những trải nghiệm đầu đời khi sống gần gũi với thiên nhiên này đã truyền cho Hemingway một niềm đam mê suốt đời đối với những cuộc phiêu lưu ngoài trời và với cuộc sống trong những khu vực xa xôi, hẻo lánh.

Hemingway học tại trường trung học Oak Park and River Forest từ tháng 9 năm 1913 cho đến khi ông tốt nghiệp vào tháng 6 năm 1917. Ông nổi trội cả về học lý thuyết lẫn chơi thể thao; ông đấm bốc, chơi bóng bầu dục, và là một tài năng hiếm thấy trong các lớp học tiếng Anh. Kinh nghiệm viết đầu tiên của ông là viết cho "Trapeze" và "Tabula" (tờ báo và cuốn niên giám của trường) trong năm học trung học cơ sở (tiếng Anh-Mỹ: junior year), sau đó giữ chức vụ biên tập trong năm học phổ thông (tiếng Anh-Mỹ: senior year). Thỉnh thoảng, ông cũng viết dưới bút danh Ring Lardner, Jr., thể hiện sự kính trọng đối với thần tượng văn chương của ông - Ring Lardner.

Sau khi học trung học, Hemingway không muốn theo học đại học. Thay vào đó, ở tuổi mười tám, ông bắt đầu sự nghiệp viết của mình với tư cách là một phóng viên cho The Kansas City Star. Mặc dù ông làm việc cho tờ báo này chỉ trong sáu tháng (17/10/1917 - 30/04/1918), nhưng trong suốt cuộc đời mình, ông đã sử dụng tôn chỉ viết của tờ báo này để tạo nên phong cách viết cho riêng mình. 

Hemingway ngừng làm phóng viên sau đó chỉ một vài tháng và, đi ngược lại mong muốn của cha mình, ông tình nguyện tham gia vào Quân đội Mỹ để chứng kiến những hoạt động trong Chiến tranh thế giới I. Ông không vượt qua được bài kiểm tra sức khỏe vì thị lực kém, vì thế ông chuyển sang gia nhập vào hàng ngũ quân y. Trên chặng đường tới mặt trận Italia, ông dừng lại ở Paris, nơi đang chịu những đợt ném bom liên tiếp từ phía không quân Đức. Thay vì ở một nơi tương đối an toàn tại khách sạn Florida, Hemingway cố gắng tiếp cận trận đánh nhất có thể.

Tiếp đó, sau khi tới Mặt trận Italia, Hemingway đã chứng kiến tận mắt sự tàn bạo của chiến tranh. Hemingway đã viết về trải nghiệm này trong một truyện ngắn của ông mang tên "A Natural History of the Dead" (tạm dịch: Một Câu Chuyện Có Thật về Cái Chết). Lần đầu tiên chạm trán với cái chết khiến cho ông run sợ. Những người lính mà ông gặp sau đó cũng không làm dịu bớt nỗi kinh hoàng.

Vào ngày 08/07/1918, Hemingway bị thương trong khi vận chuyển quân nhu, và nó đã khiến ông phải dừng công việc lái xe cứu thương của mình. Hemingway được điều trị trong một bệnh viện tại Milan được tài trợ bởi Hội Chữ Thập Đỏ Hoa Kỳ. Bởi thiếu những trò tiêu khiển, ông thường xuyên uống rượu mạnh và đọc báo để giết thời gian. Ở đây ông đã gặp Agnes von Kurowsky tới từ Washington, D.C., một trong số mười tám y tá (mỗi người chăm sóc một nhóm bốn bệnh nhân), nhiều hơn ông sáu tuổi. Hemingway đã yêu cô, nhưng quan hệ của họ chẳng thể tiếp tục do ông đã trở lại Mỹ; thay vì quay trở về cùng ông như dự định ban đầu, cô này đã có cảm tình với một sĩ quan Italia. Điều này trở thành một dấu ấn không thể phai nhòa trong tâm trí ông và tạo cho ông những cảm hứng. 

Sau chiến tranh, Hemingway quay trở lại Oak Park, và trong năm 1920, ông chuyển đến một căn hộ tại 1599 Phố Bathurst. Trong khi sống tại đây, ông kiếm được một công việc tại tòa báo Toronto Star. Ông làm việc với tư cách phóng viên tự do, chủ bút, và thông tín viên nước ngoài. 

Trong vòng một thời gian ngắn từ cuối năm 1920 tới gần hết năm 1921, Hemingway sống gần mạn bắc Chicago, trong khi vẫn sắp chữ cho The Toronto Star. Ông cũng là trợ lý biên tập của Co-operative Commonwealth, một tờ báo tháng. Ngày 03/09/1921, Hemingway cưới người vợ đầu tiên, Hadley Richardson. Sau tuần trăng mật, họ chuyển tới một căn hộ chật hẹp ở tầng trên cùng tại lô 1300 Phố Clark. Vào tháng 12 năm 1921, gia đình Hemingway rời khỏi Chicago và Oak Park, không bao giờ sống ở đó nữa, chuyển sang sống ở nước ngoài.

Theo lời khuyên của Sherwood Anderson, họ định cư tại Paris, Pháp, và chính tại nơi đây Hemingway gửi tin về Chiến tranh Hy Lạp - Thổ Nhĩ Kỳ cho tờ Toronto Star. Anderson đã gửi cho ông một lá thư giới thiệu tới Gertrude Stein. Bà trở thành cố vấn của ông và giới thiệu ông với "Parisian Modern Movement" (tạm dịch: Phong trào Đổi mới Paris) đang tiến triển tại Khu Montparnasse.

Sau lần xuất bản năm 1922 và lệnh cấm của Mỹ đối với cuốn tiểu thuyết Ulysses của người đồng sự James Joyce, Hemingway đã nhờ những người bạn tại Toronto mang lén những bản sao của cuốn tiểu thuyết về Mỹ. Cuốn sách đầu tiên của ông, có tên Three Stories and Ten Poems (tạm dịch: Ba câu chuyện và mười bài thơ) (1923), được xuất bản tại Paris bởi Robert McAlmon.

Sau nhiều thành công với tư cách là thông tín viên nước ngoài, Hemingway trở lại Toronto, Canada năm 1923 và viết dưới bút danh Peter Jackson. Trong lần thứ hai sinh sống tại Toronto, ông có người con trai đầu tiên. Hemingway đã đề nghị Gertrude Stein làm cha đỡ đầu của cậu.

Cũng vào thời điểm đó, có những bất hòa gay gắt xảy ra giữa Hemingway và người biên tập của ông - Harry Hindmarsh, người tin rằng Hemingway đã trở nên tồi tệ trong thời gian ông sống ở nước ngoài. Hemingway quyết định viết đơn xin thôi việc vào tháng 12 năm 1923. Tuy nhiên, việc này không được chấp thuận, và Hemingway vẫn tiếp tục viết cho The Toronto Star nhưng không thường xuyên cho đến hết năm 1924. Hầu hết những bài mà Hemingway viết cho Star sau này được xuất bản trong tuyển tập Dateline: Toronto vào năm 1985.

Sự nghiệp văn chương tại Mỹ của Hemingway bắt đầu với việc tập truyện ngắn Trong thời đại của chúng ta (tựa gốc: In Our Time) của ông được xuất bản (1925).

Những mối liên hệ của Hemingway ở Pháp tạo cảm hứng cho sự ra đời của cuốn tiểu thuyết dài đầu tiên, Mặt trời vẫn mọc (tựa gốc: The Sun Also Rises) (1926) (được xuất bản tại Vương Quốc Anh với tựa đề "Fiesta"). Tiểu thuyết trở nên nổi tiếng khắp châu Âu và Mỹ và nhận được nhiều lời khen trong giới phê bình.

Hemingway ly dị với Hadley Richardson năm 1927 và cưới Pauline Pfeiffer, một người sùng đạo Thiên Chúa đến từ Piggott, Arkansas. Hemingway cũng trở thành một tín đồ Thiên chúa giáo vào thời gian này. Đây là năm mà tuyển tập truyện ngắn Men Without Women (tạm dịch: Đàn Ông Không Đàn Bà) được xuất bản, trong đó The Killers (tạm dịch: Những Kẻ Sát Nhân) là một trong những truyện ngắn nổi bật nhất và được chọn in nhiều lần nhất của ông. Năm 1928, Hemingway và Pfeiffer chuyển đến Key West, Florida, để bắt đầu một cuộc sống mới. Tuy nhiên, cuộc sống mới của họ sớm rạn nứt bởi bi kịch khác lại đến với cuộc đời ông.

Năm 1928, cha Hemingway, Clarence, đã tự vẫn bằng một khẩu súng lục cũ từ thời Nội Chiến. Điều này khiến Hemingway đau đớn tột cùng. Cũng trong khoảng thời gian đó, Harry Crosby, người sáng lập Black Sun Press và một người bạn của Hemingway khi ông ở Paris, cũng quyết định tự tử.

Cùng năm đó, người con trai thứ hai của Hemingway, Patrick, sinh ra ở Kansas City (người con trai thứ ba của ông, Gregory, ra đời vài năm sau đó). Cậu bé được sinh ra nhờ cách phẫu thuật (gốc: Caesarean section) do vợ ông bị khó sinh.

Được xuất bản năm 1929, Giã từ vũ khí (tựa gốc: A Farewell to Arms) kể lại chuyện tình lãng mạn giữa Frederic Henry,một sĩ quan Mỹ, và Catherine Barkley, một y tá Anh. Sự thành công của Giã từ vũ khí giúp cho Hemingway ổn định hơn về tài chính.

Theo lời khuyên của John Dos Passos, Hemingway quay về Key West, Florida năm 1931, nơi ông tạo dựng cơ ngơi đầu tiên của ông tại Mỹ, mà nay đã được chuyển đổi thành một viện bảo tàng. Từ khi sống ở đây, Hemingway thường câu cá tại vùng hồ Dry Tortugas cùng người bạn lâu năm của ông Waldo Pierce, tới quán bar nổi tiếng Sloppy Joe's và có dịp du lịch sang Tây Ban Nha, thu thập tài liệu cho cuốn Chết vào lúc xế trưa và Winner Take Nothing (Kẻ thắng chẳng được gì). Hơn 9 năm sau đó, đến tận khi cuộc hôn nhân của ông chấm dứt năm 1940, và tiếp đó, trong suốt những năm 50 của thế kỷ XX, cũng là những năm cuối cuộc đời, Hemingway đã thực hiện ước chừng 70% việc viết văn trong đời trong một phòng viết nhỏ tại tầng trên của một ga-ra ô tô được cải tạo, phía sau ngôi nhà này.

Vào một cuộc đi săn trong mùa thu năm 1933, ông đã đến Mombasa, Nairobi, và Machakos ở Kenya, tiếp đó là Tanganyika. Hemingway đã bị bệnh trong chuyến đi này. Vì thế, ông đã được chuyển tới Nairobi bằng máy bay, và trải nghiệm này đã được hư cấu trong tập truyện "The Snows of Kilimanjaro" (tạm dịch: Tuyết vùng Kilimanjaro) của ông. 

Hemingway sống ở Bimini, Bahamas từ 1935 tới 1937, tại Khách sạn Compleat Angler. Ông làm việc cho To Have and Have Not và viết một số bài báo, nhưng phần lớn thời gian ông sống trên con thuyền Pilar của mình, để đánh bắt cá cờ, cá thu và cá kiếm ở vùng nước ngoài khơi xanh thẳm. 

Năm 1936, Hemingway tới Tây Ban Nha làm phóng viên về Nội chiến Tây Ban Nha cho tờ North American Newspaper Alliance (Liên Minh Báo chí Bắc Mỹ). Cuộc sống của Hemingway thời kì này bị ảnh hưởng bởi một số vấn đề về sức khỏe.

Vào mùa xuân năm 1939, Hemingway mất đi mảnh đất quê hương được thừa kế vào tay bè đảng phát-xít của Franco, và tiếp đó mất đi ngôi nhà thân yêu ở Key West, Florida do cuộc ly hôn năm 1940.

Ít tuần sau cuộc ly hôn, ông cưới người bạn gái mà ông quen tại Tây Ban Nha từ bốn năm trước, đó là Martha Gellhorn, người vợ thứ ba của ông.

Hoa Kỳ tham gia Chiến tranh thế giới II vào ngày 08/12/1941, và lần đầu tiên trong cuộc đời mình, Hemingway tham gia chiến đấu trong hàng ngũ hải quân. Sau chiến tranh, Hemingway bắt đầu viết The Garden of Eden (Vườn Địa Đàng). Tác phẩm tuy chưa được hoàn thành nhưng một bản tóm lược về nó được xuất bản năm 1986 sau khi ông qua đời.

Mới 4 năm sau ly dị với Gellhorn, Hemingway đã cưới phóng viên chiến tranh Mary Welsh Hemingway, người ông đã gặp ở hải ngoại năm 1944.

Trong một cuộc đi săn, ông đã bị thương nặng sau hai tai nạn máy bay liên tiếp. Hemingway đã bị thương nặng một tháng sau đó trong một vụ hỏa hoạn làm cho chân, thân trên phía trước, môi, bàn tay trái và cánh tay phải của ông bị bỏng cấp độ hai. Vết thương để lại cho ông nỗi đau đớn kéo dài, và ông không thể tới Stockholm để nhận giải Nobel.

Một tia hy vọng le lói xuất hiện khi ông tìm lại một số bản thảo cũ của mình từ hồi 1928 trong những hầm chứa Ritz. Đó chính là bản thảo mà ông sử dụng để viết A Moveable Feast. Mặc dù sức khỏe của ông có được phục hồi đôi chút, nhưng chính chứng nghiện rượu đã kéo ông đi xuống. Tuy nhiên, tháng 10 năm 1956, Hemingway đã kịp lấy lại sức khỏe để tới Madrid và tham dự lễ tang Pío Baroja, một trong số những nhà văn gây ảnh hưởng tới Hemingway.

Năm 1960, ông rời xa hòn đảo và Finca Vigía, điền trang của ông ở bên ngoài Havana mà ông đã làm chủ trong hơn hai mươi năm. 

Những bức ảnh trong bài báo The Dangerous Summer (Mùa hè nguy hiểm) đã khiến ông ngã bệnh và phải chuyển tới Ketchum, Idaho để điều trị cao huyết áp và viêm gan. Trên thực tế, có thể chính điều này đã nhanh chóng đẩy ông nghĩ đến việc tự tử, kể từ khi có tin ông bị mất trí nhớ sau những phiên sốc điện. 

Hemingway đã dự định tự sát vào mùa xuân 1961, và tiếp tục được chữa trị bằng liệu pháp sốc điện (ETC). Vào buổi sáng ngày 02/07/1961, vài ba tuần trước sinh nhật lần thứ 62 của mình, ông đã chết tại nhà riêng tại Ketchum, Idaho, sau khi tự nã đạn vào đầu mình bằng một khẩu súng săn. Hemingway yên nghỉ tại một nghĩa trang ở phía bắc thị trấn Ketchum, Idaho. Một bia tưởng niệm đã được dựng năm 1966 tại một địa điểm khác, nhìn ra Trail Creek, phía bắc Ketchum. 

 

  • Các tác phẩm:
  • Tiểu thuyết:
  • (1926) The Torrents of Spring
  • (1926) The Sun Also Rises (Mặt trời vẫn mọc)
  • (1929) A Farewell to Arms (Giã từ vũ khí)
  • (1937) To Have and Have Not (Có và không có)
  • (1940) For Whom the Bell Tolls (Chuông nguyện hồn ai)
  • (1950) Across the River and Into the Trees (Bên con sông và dưới vòm lá cây)
  • (1952) The Old Man and the Sea (Ông già và biển cả)
  • (1970) Islands in the Stream
  • (1986) The Garden of Eden (Vườn địa đàng)
  • (1999) True at First Light
  • Tuyển tập:
  • (1923) Three Stories and Ten Poems
  • (1925) In Our Time (Trong thời đại chúng ta)
  • (1927) Men Without Women (Đàn ông không có đàn bà)
  • (1933) Winner Take Nothing (Kẻ thắng chẳng được gì)
  • (1936) The Snows of Kilimanjaro (Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro)
  • (1938) The Fifth Column and the First Forty-Nine Stories
  • (1969) The Fifth Column and Four Stories of the Spanish Civil War
  • (1972) The Nick Adams Stories
  • (1987) The Complete Short Stories of Ernest Hemingway
  • (1995) Everyman's Library: The Collected Stories
  • Hợp tuyển: 
  • Men at War
  • Truyện có thật:
  • (1932) Death in the Afternoon (Chết vào lúc xế trưa)
  • (1935) Green Hills of Africa (Những ngọn đồi xanh châu Phi)
  • (1962) Hemingway, The Wild Years
  • (1964) A Moveable Feast
  • (1967) By-Line: Ernest Hemingway
  • (1970) Ernest Hemingway: Cub Reporter
  • (1981) Ernest Hemingway Selected Letters
  • (1985) The Dangerous Summer (Mùa hè nguy hiểm)
  • (1985) Dateline: Toronto
  • (1999) Hemingway on Writing
  • (2000) Hemingway on Fishing
  • (2003) Hemingway on Hunting
  • (2003) Hemingway on War
  • (2005) Under Kilimanjaro
  • (2008) Hemingway on Paris

MẶT TRỜI VẪN MỌC

Ấn phẩm “Mặt trời vẫn mọc” nguyên tác THE SUN ALSO RISES của tác giả Hemingway được dịch giả Nguyễn Quốc Trụ chuyển ngữ sang Việt ngữ. Bìa do Nguyễn Trọng Khôi trình bày. Tiểu thuyết này được nhà xuất bản Vàng Son ấn hành năm 1973. Ấn bản đang được lưu giữ ở Quán sách mùa Thu có tình trạng rất tốt, bìa gốc, lõi sách đẹp, mực in không bị mờ. Sách dày 100 trang, ruột đầy đủ trang. “Mặt trời vẫn mọc” là cuốn sách đạt giải Nobel Văn Chương năm 1954. Đây là tác phẩm đầu tay của ông. Ở tiểu thuyết này,...
0972 873 962